Các nghệ sỹ Việt Nam - Thái Lan đang sáng tác trong Workshop Giao lưu nghệ thuật Thái - Việt tổ chức tại Đại học Naresuan, tỉnh Phisanulok, Thái Lan, tháng 7-2013 Ảnh:Nguyễn Anh Tuấn Từ năm 1988, nhất là sau thời điểm Đổi mới, đã có nhiều hoạt động đàm luận văn hóa-nghệ thuật giữa nước ta và các nước khác ngoài khối XHCN. Những cuộc bàn bạc ấy trong vòng 10 năm đầu mở cửa vẫn mang tính chất bạn chi tiền ra mời, ta chỉ cử người đi. Cho đến nay, vẫn rất nhiều người nằm trong sự bao cấp vẫn muốn như vậy và vẫn đi theo cách như vậy. Điều đó làm cho sự hội nhập ngày một mất chủ động là vì ta đi theo chương trình của họ, mục đích của họ. Họ chỉ mời và tuyển lựa những gì mà họ nghĩ là đúng. Hình ảnh văn hóa Việt Nam được giới thiệu theo kiểu đó rất thiên lệch và phiến diện. Hội nhập là sự xúc tiếp hai chiều toàn diện với văn hóa thế giới dù muốn hay không, quờ các dân tộc đều chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, nếu không chủ động hội nhập, thì thụ động hội nhập còn tệ hơn. Internet, Tivi, phim ảnh, sách báo, lối sống, du lịch, quảng cáo… thậm chí là những đợt thành thân của các cô gái Việt với người nước ngoài, là những thứ diễn ra hằng ngày, còn nghệ sỹ hay đoàn nọ đoàn kia ra nước ngoài hoặc vào Việt Nam chỉ là phần rất nhỏ. Nước chảy chỗ trũng là một quy luật khó đảo ngược. Một thí dụ sinh động là việc nhiều thanh niên vẽ graphity lên các bức tường ngoài đường phố vốn bị coi là phạm pháp ở Tây Âu và Mỹ thì vô hình trung bị bỏ mặc ở ta. Trong phong trào Graphity, cũng sinh ra được hai anh tài là Keit Haring và Batquiat, còn lại là vẽ tào lao cả. Riêng ở nước ta, nếu không bị sự tốn kém cản lại thì có nhẽ đầy đường phố đã bị bôi lòe loẹt y sì như New York cả về cách vẽ (phải mất hàng trăm triệu mới đủ tiền sơn cho một bức tường lớn). Hip hop, fast food, thời trang cũng là những nhập cảng lối sống khác, nó diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, nhưng ở ta, sự lựa chọn là rất cẩu thả, thanh niên cứ làm theo Âu Mỹ mà không cần biết lý do gì. Mặt khác phim Trung Quốc, Hàn Quốc chiếm thời lượng lớn trên tivi miễn phí khiến người ta không còn biết lịch sử và văn hóa Việt Nam ở đâu… Ngược lại với sờ soạng những điều trên thì văn hóa - nghệ thuật nội lực lại ít được quan hoài nhất, cho đến nay vẫn không có bảo tàng nghệ thuật đương đại và đương đại. Các nhà văn hóa và ngôn ngữ nước ngoài chiếm trọn sân chơi của nghệ thuật trẻ - ngôn ngữ của thanh niên và nghệ sỹ đương đại ở Việt Nam. Các gallery Việt Nam quá yếu không tham gia được một hội chợ nghệ thuật hàng năm nào (Art Fair). Những nghệ sỹ Việt Nam quá tiêu cực hoặc nghèo nên không hoặc rất khó khăn tham dự được liên hoan nghệ thuật quốc tế (Biennale) - hoạt động thường niên đánh giá vốn văn hóa ngày nay của một dân tộc, trong một sân chơi đồng đẳng. Từ tất những điều này, có lẽ mỗi chúng ta có thể tự rút ra cái nhìn về văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập với văn hóa thế giới như thế nào. Đối với giới mỹ thuật trong quá trình hội nhập, chúng tôi luôn cảm thấy mình tham gia một cuộc chơi không cân sức, mặc dầu tiềm lực sáng tác của các nghệ sỹ Việt Nam không kém cạnh ai. Sau 15 năm hội nhập, vẫn không có bảo tồn lớn nào ở thế giới trưng bày nghệ thuật Việt Nam, chưa nói là sưu tập, các gallery hàng đầu cũng đứng ngoài cuộc. Giá tranh của các họa sỹ Việt Nam đắt nhất (mức độ phổ biến) không vượt được qua ngưỡng mười ngàn USD, nhàng nhàng chỉ khoảng từ vài trăm đến năm ngàn USD và ngày càng không có thị trường, ngày một không bán được, trong khi tranh của nghệ sỹ hàng đầu các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đã lên từ một trăm ngàn đến hơn triệu USD. Và điều này không được quyết định bởi người phương Tây mà bởi chính thị trường quốc nội. Chúng ta thiếu một nền tảng xã hội cho văn hóa phát triển và hội nhập. Nhà nghiên cứuPhan Cẩm Thượng |
