Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Xử mới nhất lý nợ xấu, khó vì thuế

Trạng sư Trần Minh Hải

Các nhà băng phản ảnh, khi thanh lý tài sản đảm bảo của khách nợ là nhà đất, ngân hàng phải nộp nhiều khoản thuế, ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của các đơn vị này. Theo ông, căn nguyên do đâu?

Hầu hết trường hợp khách hàng hoặc bên thứ ba đồng ý giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng là để thay thế cho nghĩa vụ trả nợ, do bản thân họ đã mất khả năng tài chính. Nếu thực hành phương án này, được hiểu là một biện pháp xử lý nợ có tổn thất của nhà băng, thì việc nộp thuế nảy sẽ không đặt ra.

Tuy nhiên, do thủ tục hành chính về nhà đất khiến cho ngân hàng không thể tiến hành phương thức này trọn, bởi để sang tên nhà đất cho ngân hàng, thì chỉ có thể là “tặng cho” hoặc “chuyển nhượng” mới được cơ quan quản lý quốc gia chấp thuận. Chính vì vậy, để có cơ sở khấu trừ trách nhiệm nợ cho khách hàng, nhà băng đành phải lập hợp đồng chuyển nhượng, mà đã là chuyển nhượng thì sẽ chịu nhiều khoản thuế. Trong khi đó, hồ hết khách hàng và bên có tài sản đảm bảo không có tiền chi trả cho những khoản thuế hoặc không muốn trả, ngân hàng muốn xử lý được nợ đành phải hài lòng chi trả. Do đó, một trong những nút thắt khó gỡ cho việc xử lý nợ của ngân hàng là “nộp thuế”.

Cụ thể các khoản thuế ảnh hưởng đến chất lượng xử lý tài sản thế chấp của nhà băng ở đây là gì, thưa ông?

Đầu tiên, đó là thuế giá trị gia tăng (GTGT) giả dụ khách hàng hoặc bên có tài sản là doanh nghiệp. Có những vụ việc, nhà băng nhận gán nợ khối tài sản bất động sản lên đến hàng trăm tỷ đồng và như vậy, riêng về thuế GTGT cũng đã lên đến hàng chục tỷ đồng. Khách hàng không trả khoản thuế này, vậy là muốn xử lý được nợ, ngân hàng đành phải chi trả, điều này đích thực là tổn thất kép cho nhà băng.

Thêm vào đó, thuế thu nhập là vấn đề tất yếu sẽ đặt ra với bên chuyển nhượng, dù là cá nhân chủ nghĩa hay doanh nghiệp và việc hoàn tất nộp khoản thuế này là một thủ tục bảo đảm quá trình sang tay sở hữu diễn ra cho ngân hàng. Mức thuế suất 2% trên tổng giá trị hợp đồng chuyển nhượng sẽ đặt ra đối với hồ hết trường hợp xử lý tài sản đảm bảo là nhà đất. Tuy nhiên, khi khách hàng không trả được nợ, phải hài lòng phát mại tài sản thì không khó để thấy rằng, căn bản là nhà băng phải nộp thuế.

Đáng kể hơn, trong nhiều trường hợp, việc đầu tư, giao tế bất động sản dự án diễn biến phức tạp và qua nhiều nhà đầu tư thứ cấp đã nảy sinh khoản thuế thu nhập doanh nghiệp 25% giá trị chênh lệch giữa giá mua trong quá cố và giá mua của nhà băng, dẫn đến khoản thuế thu nhập rất lớn với doanh nghiệp mà rốt cục ngân hàng vẫn là người thực trả.

Ở đây, bản chất là nhà băng bán nhà đất để thu hồi nợ, việc bán này không làm phát sinh thu nhập cho ngân hàng, mà chỉ là để lấy lại phần tài sản mà ngân hàng đã cho khách hàng vay trước đó. Nhưng với hiện trạng những thủ tục và quy định hiện tại, nhà băng phải nộp nhiều khoản thuế khác nhau nếu muốn xử lý được tài sản đảm bảo.

Nhà băng có cách nào tránh phải nộp khoản thuế cho một khoản thu nhập không tồn tại?

Thực ra, do việc nhận tài sản là để thay thế cho khoản nợ quá hạn nên khi làm thủ tục chuyển nhượng, ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng để có giá mua bán thấp nhằm tránh phải nộp nhiều tiền thuế, bởi đây là việc xử lý nợ có tổn thất. Tuy nhiên, ngay cả khi hạ giá để có mức thuế thấp thì rối rắm vẫn nảy sinh, bởi sau khi nhận tài sản thì nhà băng vẫn phải tìm cách bán ra để thu hồi vốn. Do việc mua bán của ngân hàng là chính tắc, có giá bán, giá mua rõ ràng, nên nếu giá mua thấp mà sau này giá bán cao, thì thuế thu nhập doanh nghiệp (25%) phải nộp khi đó sẽ tăng vọt.

Theo ông, giải pháp nào để hỗ trợ khối ngân hàng thoát khỏi vướng mắc về thuế nêu trên, nhằm đẩy nhanh việc xử lý tài sản bảo đảm, qua đó thúc đẩy xử lý nợ xấu?

Cần xóa bỏ sự “lệch pha” giữa một bên là thủ tục xử lý tài sản theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định về giao tiếp đảm bảo và xử lý tài sản bảo đảm, một bên là thủ tục quản lý hành chính quốc gia lĩnh vực nào đó (nhà đất, tàu bè, ô tô…) để các cơ chế xử lý nợ theo Nghị định 163 có hiệu lực đích thực trên thực tại. Nghị định 163 được ban hành từ năm 2006, nhưng Thông tư liên tịch giữa các ngành ngân hàng, tư pháp… đến nay vẫn chưa ra đời. Cơ quan quản lý cần thúc đẩy nhanh tiến trình ban hành văn bản này, làm khung pháp lý để tương trợ thị trường, hỗ trợ khối ngân hàng đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu.