Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Bác dạy xu hướng chúng tôi lòng yêu nước.

Chính những ngày ở trong nhà cụ Hoe Lợi, Bác đã xin gia chủ đặt tên cho 4 người con của cụ là Cách, Mệnh, Thành, Công

Bác dạy chúng tôi lòng yêu nước

Cơ duyên mà đại gia đình Bằng Lâm biết đến và trở thành thân thiết với Bác Hồ là lúc mà gia đình ông đang còn sống ở Nakhon Phanom, Thái Lan.

3. Ông cùng với một số bạn bè phải trốn khỏi quê hương sang nương nhờ tại sơn hà láng giềng Thái Lan. 7. Trên phần mộ ông, đoàn thể đề tặng dòng chữ: “Sống yêu nước, chết quang vinh”. Đại tá Bằng Lâm kể tiếp: Cha và các chú tôi ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước với sự cổ vũ nồng nhiệt của ông bà và lòng yêu nước nồng cháy của tuổi trẻ đã được Bác thắp sáng trong thời gian Bác sống và hoạt động tại gia đình ông tôi.

Dân bản Phựng Mày tặng ông câu đối: “đất nước ghi công người công dân chí khí/Việt kiều mến tiếc một phụ lão trung thành”! “thế cục của ông nội tôi đã ảnh hưởng rất lớn đến các đời con cháu của cụ ngay lúc còn sống và cả về sau này” - ông Bằng Lâm nói.

Thực dân Pháp thẳng cánh đàn áp những tình nhân nước. Và lúc ấy tôi cũng không biết tác giả của những bức ảnh tuyệt ấy chính là người con trai cả sống sót từ chiến trận trở về của cụ Hoe Lợi – Nguyễn Bằng Cát – nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Bằng Sâm (bút danh Băng Sâm). Những bức ảnh hoành tráng, kỳ vỹ khiến tôi mê mệt ấy đã bồi đắp lòng yêu nước, yêu biển đảo quê hương cho cả một thế hệ lính sau 1975 chúng tôi.

Để hợp pháp hóa, Bác được thu xếp làm việc trong cửa hàng thuốc Bắc của cụ Hoe Lợi, cũng kê đơn bắt mạch và bốc thuốc với tên mới: Lang Tín. Ngoài một cửa hàng thuốc Bắc, ông còn lăn lộn khó nhọc với nhiều nghề khác như xây dựng, thầu khoán… dựng nên một cơ ngơi phong túc. Lúc đó, cụ bà Hoe Lợi đã lúng túng sững sờ hồi lâu mới thốt lên được: “Chú Tín… Ôi Cụ Hồ, Cụ Hồ! Ối ông ơi! Các con ơi! Về mà xem chú Lang Tín chính là Cụ Hồ, đang đến thăm nhà mình đây này!”.

1960). Khi chuẩn bị vượt biên thuỳ từ biệt giang sơn thân thương, ông đã vác một tảng đá lớn ném xuống dòng Mekong đang chảy xiết mà thề rằng: “Không rửa được mối nhục này, quyết không trở lại quê hương”! Tại Thái Lan, ông hoạt động trong Tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội và lập nghiệp bằng nghề lương y bốc thuốc cứu người.

3. 1958. 1. Cụ Hoe Lợi là nhà nho, làm nghề bốc thuốc cứu người nên cụ đặt tên cho con toàn là những vị thuốc quý: Nguyễn Bằng Sâm, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Bằng Quế, Nguyễn Bằng Phụ. Trong cuốn “Tiếng thơm còn mãi”, tác giả Trần Đình Riên viết: “Bác Hồ ở nhà cụ Nguyễn Bằng Cát và cụ bà Nguyễn Thị Lợi, là do Khu bộ Việt Nam Thanh Niên cách mệnh bố trí.

Đại tá Bằng Lâm Cụ Hoe Lợi lâm bệnh và từ trần ngày 23. # Ý chí tin vào sự thành công của cách mạng (anh Sâm tên là Cách, chị Nhung tên Mệnh, anh Quế tên Thành, anh Phụ tên là Công). "Nếu không sinh ra trong một gia đình cách mạng, lại có mối thâm giao với Chủ tịch Hồ Chí Minh như thế, thì hẳn tôi đã không phải là tôi ngày hôm nay!”.

Ấy là vào khoảng giữa năm 1929, Bác về Thái xây dựng cơ sở cách mệnh, với biệt danh Thầu Chín. Nhà cụ Hoe Lợi là nơi Bác thường bàn công việc của tổ chức với các bậc tiền bối cách mạng như: Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Phùng Chí Kiên… Buổi tối, Bác thường dành thời gian kể chuyện về gương các anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Quang Trung… cho các con của cụ Hoe Lợi nghe.

Mọi người trong gia đình gọi Bác bằng cái tên thân mật và kính trọng là “Chú Lang Tín”. “Có hiểu biết, có thông thuộc lịch sử của nước nhà, thì mới biết yêu nước, thương nòi được”. Người kể cho tôi những dòng hồi ức ấy là đại tá – họa sĩ Bằng Lâm – cựu Phó chủ toạ Hội Mỹ thuật Việt Nam. Tôi cũng không ngờ, tác giả của những bức tranh nổi tiếng về biển đảo “Phong ba trên biển”, “Lính thủy và mặt trời”… chính là cháu đích tôn của cụ Hoe Lợi – đại tá, họa sĩ Nguyễn Bằng Lâm.

Khu di tích Bác Hồ ở Nakhon Phanom. Kiều bào khắp các tỉnh đều cử đại biểu về dự đám đang ông. Gần 1 vạn kiều bào và nhân dân Thái Lan đã đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng.

Bác ở một căn phòng khang trang trên tầng 2, nhưng Bác từ khước chỉ ở tầng trệt. Nhưng “lòng yêu nước luôn rực cháy trong tâm tình, đã soi sáng con đường hai ông bà đã chọn đi suốt thế cuộc mình” (Báo QĐND số ngày 8. Với tinh thần yêu nước cao cả của gia đình cụ Hoe Lợi và những cống hiến to lớn đó, năm 1960 gia đình cụ đã lúc về Hải Phòng và vinh dự được Bác Hồ đến thăm, chúc tết vào mùa xuân năm 1961.

Ông Bằng Cát đã khích lệ cả 3 người con trai Bằng Sâm, Bằng Quế, Bằng Phụ lên đường chống chọi. Ba người ra đi, chỉ duy nhất cha tôi trở về. 3. Trước khi các con mình phát xuất ra chiến trận, ông căn dặn: “Các con đi là nhớ đi thay cho cả phần cha và mẹ đã già”.

Thương ông bà đã trung niên, đơn vị và đoàn thể muốn để một đứa ở lại hậu phương chăm lo cho ông bà lúc trái gió trở trời. Từ ngày còn khoác áo lính, cách đây ngót 40 năm, do có tý “máu nghệ”, tôi rất chăm chỉ đọc tập san Văn nghệ Quân đội và ở tờ văn nghệ nhà binh này, tôi đã gặp rất nhiều bức ảnh ấn tượng về biển đảo của sơn hà mà nhân vật trọng tâm là lính hải quân, lính thủy.

Bác khuyên các con cụ Hoe Lợi: “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc gác nước nhà Việt Nam”. Đại tá Bằng Lâm kể: Ông tôi sinh năm 1875 trên mảnh đất Nghệ An nghèo nhưng giàu truyền thống cách mệnh. Sau này anh Quế và anh Phụ đã hy sinh, một ở chiến trận Lào, một ở chiến trường Campuchia.

Trong thời kỳ giang san lâm nguy, chàng thanh niên nho học Nguyễn Bằng Cát đã tham gia phong trào Cần Vương, phong trào Việt Nam Quang Phục Hội… nhưng cuộc đấu tranh không cân sức nên phong trào đã đi đến thất bại. 2. Nhưng ông đã cảm khái nói: “Con có thương bố mẹ không? Thương ba má thì phải thương nước chứ”. Minh Tâm. Trước sự mất mát lớn lao đó, ông đã nén đau thương động viên bà tôi rằng: “Chúng nó đã chết vì dân vì nước, đó là cái chết vinh quang, báo trung, báo hiếu, chỉ thương con chết giữa tuổi thanh xuân đầy hẹn, không được sống để tận hưởng cái gia tài to lớn: Chúng nó có gia tài to lớn là giang sơn và cách mệnh” (Báo QĐND 8.

Bác là nhà yêu nước đi làm cách mạng đòi độc lập tự do cho dân cho nước, nên Bác đặt tên: Cách, Mệnh, Thành, Công là trình diễn. Giữa năm 1946, quân Pháp lại trở lại Đông Dương. 1960). Bác nói về nhục mất nước và khuyên răn các cháu nắm học tập để mai sau chiến đấu cho độc lập tự do của giang san.